Kinh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát là một trong những bản kinh được nhiều Phật tử trì tụng để cầu an, hóa giải khổ đau và tìm về sự thanh thản trong tâm hồn. Bài kinh thể hiện lòng từ bi vô lượng của Quán Thế Âm, giúp chúng sinh vững tin, vượt qua thử thách và đạt được sự an lạc. Cùng Bửu Liên khám phá ý nghĩa, nội dung và cách tụng kinh đúng để ứng dụng vào đời sống tu tập hằng ngày.
Bài kinh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát
Dưới đây là toàn văn Bài kinh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát cùng phần dịch nghĩa, giúp người trì tụng dễ dàng thấu hiểu và thực hành.
Nội dung bài kinh
Bài kinh cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát:
Nam Mô Đại-từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quảng đại linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Phật,
Nam Mô Pháp,
Nam Mô Tăng,
Bá thiên vạn ức Phật,
Hằng hà sa số Phật,
Vô lượng công đức Phật,
Phật cáo A-nan ngôn,
Thử kinh đại-thánh,
Năng cứu ngục tù,
Năng cứu trọng bịnh,
Năng cứu tam tai bá nạn khổ .
Nhược hữu nhân, tụng đắc nhất thiên biến,
Nhất thân ly khổ nạn,tụng đắc nhứt vạn biến,
Hợp gia ly khổ nạn, Nam Mô Phật Lực uy,
Nam Mô Phật lực hộ , Sử nhơn vô ác tâm,
Linh nhơn thân đắc độ , Hồi quang Bồ-tát,
Hồi thiện Bồ Tát, A nậu đại thiên vương,
Chánh điện Bồ Tát , Ma kheo ma kheo.
Thanh tịnh Tỳ kheo,
Quán sự đắc tán,
Tư sự đắc hưu,
Chư Đại Bồ Tát,
Ngủ bá A La Hán,
Cứu độ đệ tử: (Họ tên tuổi …)
và tất cả chúng sanh,
Nhất thân ly khổ nạn,
Tự ngôn Quán Thế Âm Bồ Tát ân lạc bất tu giãi,
Cần tụng bá thiên vạn biến,
Tai nạn tự nhiên đắc giải thoát.
Tín thọ phụng hành.
Tức thuyết chơn-ngôn viết:
Kiêm Bà Kiêm Bà Đế,
Cầu Ha Cầu Ha Đế,
Đà La Ni Đế,
Ni Ha Ra Đế,
Tỳ Lê Nễ Đế,
Ma ha già đế,
Chơn Lăng Càng Đế,
Ta Bà Ha . O .
NAM MÔ ĐẠI TỪ ĐẠI BI , TẦM THINH CỨU KHỔ CỨU NẠN,
LINH CẢM QUÁN THẾ ÂM MA HA TÁT
(Niệm câu chót 3 lần, 10 lần, hoặc 108 lần, càng nhiều, càng tốt.)
Lời dịch nghĩa
Kính lạy Bồ Tát Quán Thế Âm, bậc đại sĩ cứu khổ cứu nạn, kính lạy trăm ngàn muôn Đức Phật, hằng hà sa số Đức Phật, những bậc toàn giác có vô lượng công đức.
Đức Phật dạy tôn giả A-nan-đà rằng: “Kinh này rất cao cả, có thể cứu thoát khỏi ngục tù, có thể cứu chữa bệnh nặng, có thể cứu vớt trăm tai ngàn vạn ách khổ đau. Nếu người tụng kinh được 1.000 lần thì người tụng kinh sẽ thoát khổ nạn, tụng được một muôn lần thì gia quyến thoát ách khổ đau.”
Quay về nương tựa sức oai thần của Phật, nương tựa sức gia hộ của Phật, khiến cho mọi người không sinh tâm cơ độc ác, làm cho mọi người và bản thân được Phật phù hộ độ trì. Quay về nương tựa Bồ Tát Hồi Quang, Bồ Tát Hồi Thiện, đại thiên vương A Nậu, Bồ Tát Chánh Điện, các thầy tỳ kheo thanh tịnh, bố ma và phá ác thì việc cửa quan được cởi bỏ, việc không chính đáng được ngưng dứt.
Cúi xin chư vị Đại Bồ Tát, năm trăm vị la hán cứu hộ bản thân đệ tử và gia quyến, mọi người, chúng sanh, tất thảy đều xa rời khổ nạn. Như xâu chuỗi anh lạc của Bồ Tát Quán Thế Âm tự nhiên phân rời ra, người nào siêng năng tụng ngàn muôn lần thì các tai nạn tự nhiên được cởi bỏ.
Chúng sanh nghe lời Phật dạy, tin tưởng, tiếp nhận và vâng làm, Bồ Tát Quan Thế Âm liền nói thần chú: Kim bồ kim bồ đề, đà la ni đế, ni khư la đế, bồ đề tát bà ha.

Lời dịch nghĩa kinh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm (Nguồn: Tham khảo Internet)
Xem thêm: Bài kinh Phổ Môn Quán Thế Âm Bồ Tát và cách tụng đúng chuẩn
Kết luận
Tụng Kinh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát là pháp môn giúp người hành trì nuôi dưỡng lòng từ bi, giữ tâm an định và hướng đến đời sống hạnh phúc. Khi trì tụng với tâm thành, hành giả sẽ cảm nhận được sự gia hộ, thoát khỏi khổ nạn và tìm thấy sự bình an trong từng khoảnh khắc. Qua những chia sẻ của Bửu Liên, hy vọng quý Phật tử sẽ hiểu sâu hơn về ý nghĩa, lợi ích và cách thực hành bài kinh để ứng dụng vào cuộc sống, xây dựng một tâm hồn thanh tịnh, an yên và viên mãn.
