Kiến Thức Phật Giáo

Sự tích Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát trong đời sống tâm linh

Từ trước tới nay, Mẹ Quán Thế Âm được biết đến và kính ngưỡng bởi lòng từ bi vô hạn, cứu độ chúng sinh. Trước khi đắc đạo, Ngài đã trải qua nhiều kiếp sống, tạo nên sự tích Quán Thế Âm Bồ Tát được người đời truyền tụng rộng khắp. 

Nổi bật nhất trong số đó là sự tích Quán Âm Thị Kính và Quán Âm Diệu Thiện, cũng là 2 kiếp sống cuối cùng của Ngài. Hãy cùng Bửu Liên tìm hiểu về 2 câu chuyện này nhé!

Sự tích Quán Thế Âm và Quán Âm Thị Kính

Ở kiếp thứ 10, Ngài Quán Thế Âm đầu thai làm con gái của Sùng Ông, một nhà quyền quý ở Cao Ly. Sùng Ông và vợ tuy tuổi tác đã cao, song lại không có được mụn con nối dõi nên đã đi cầu tự. Cuối cùng lòng thành được đền đáp, họ sinh ra một người con gái dung mạo đoan trang, hiền lành nhã nhặn và đặt tên là Thị Kính. 

Hai vợ chồng hết mực yêu thương Thị Kính. Khi con gái đến tuổi cập kê, gần đó có chàng Thiện Sĩ môn đăng hộ đối, nhờ bà mai đến hỏi xin, muốn cưới nàng về làm vợ và được ông bà Sùng đồng ý. 

Ban đầu, Thị Kính khi biết chuyện liền cảm thấy rất buồn tủi. Phần vì nàng là con một, lo lắng cho ba mẹ lớn tuổi ở nhà neo đơn; phần vì nghĩ đến phận gái xuất giá tòng phu, sợ mai này không thể báo hiếu, đền đáp ơn sinh thành. 

Ông bà Sùng thấy vậy nên hết lời an ủi và thuyết phục, rằng nhà chồng nàng cũng cách đó không xa, việc lui tới thăm hỏi không mấy khó khăn. Sau cùng, Thị Kính mới đành chấp thuận mối hôn sự này. Về nhà chồng, nàng làm trọn cả hai vai trò người vợ, người con dâu, chăm lo gia đình chồng chu đáo. 

Một ngày nọ, khi ngồi may bên cạnh chồng là Thiện Sĩ, lúc này chàng vẫn đang ngủ, Thị Kính phát hiện ở dưới cằm chồng có một sợi râu. Vì biết xem hình tướng, nàng biết ngay đó là điềm xấu. Nghĩ vậy, sẵn đang cầm kéo may trên tay, nàng liền đưa đến định giúp chồng cắt bỏ. Nào ngờ lúc này Thiện Sĩ bất ngờ tỉnh giấc, mở mắt ra lại thấy ngay cảnh vợ đang đưa kéo đến cổ mình, bèn vô thức hô hào lên rằng nàng muốn giết chồng.

Tình ngay lý gian, mặc cho Thị Kính một mực kêu oan, ba mẹ Thiện Sĩ vẫn nhất quyết trả nàng về nhà ông bà Sùng. Thiện Sĩ dù rất thương vợ nhưng không thể cãi lời ba mẹ, đành nuốt nước mắt nhìn vợ bị mang đi. 

Sau khi bị trả về, Thị Kính đau buồn u uất, quyết định cải nam trang xa lìa gia đình rồi hữu duyên với một ngôi chùa. Tại đây, nàng xuất gia tu đạo, với mong muốn rời khỏi thế tục, gột rửa lòng phàm, được ban pháp danh là Kính Tâm. 

Lúc này trong làng có con gái phú ông tên là Thị Mầu vô tình nhìn trúng dung mạo khôi ngô xuất chúng của vị sư Kính Tâm kia, thường xuyên lên chùa trêu ghẹo, mặc cho Kính Tâm liên tục làm ngơ. Thất vọng, Thị Mầu trở về và nảy sinh quan hệ với tôi tớ trong nhà rồi mang thai. 

Khi thai lớn dần khiến người trong làng phát hiện, cha con Thị Mầu bị mang ra hỏi tội vì sao chưa chồng mà chửa hoang. Đường cùng, Thị Mầu bèn giá họa cho Kính Tâm, nói rằng đứa con trong bụng là của vị sư đó và muốn Kính Tâm phải hoàn tục để kết duyên với mình. 

Bị oan, Kính Tâm một lòng phủ nhận nhưng cũng không hề nói rõ mình là phận nữ. Sư ông trong chùa thấy vậy bèn đứng ra bảo lãnh cho nàng, kèm theo lời hứa với dân làng rằng sẽ để Kính Tâm tu tập ngoài chùa để không làm liên lụy đến danh tiếng nơi tu hành. 

Không lâu sau, Thị Mầu hạ sinh 1 bé trai rồi mang tới bỏ ở cổng chùa cho Kính Tâm. Dù không phải con mình, nhưng vì tấm lòng từ bi, Kính Tâm đã ôm lấy đứa bé và hết lòng nuôi nấng như con ruột. 

Khi đứa trẻ được 3 tuổi, Kính Tâm lâm bệnh nặng. Biết mình không còn sống được bao lâu, nàng viết 2 bức thư, 1 gửi cho sư ông, 1 gửi về cho ba mẹ ruột. 

Sau khi Kính Tâm qua đời, sư ông nhận được thư mới biết hóa ra nàng là thân nữ nhi, liền đứng ra minh oan vụ việc năm xưa cho nàng. Thị Mầu hay tin thì không còn mặt mũi nào, bèn tự quyên sinh.

Đến ngày an táng Kính Tâm, mọi người nhìn thấy hình tướng Phật hiện trên mây rước hồn nàng về với cõi Phật. Tương truyền, chàng Thiện Sĩ sau khi phát nguyện tu hành, sau này đã đắc quả thành con chim ngậm xâu chuỗi bồ đề, đậu ngay bên cạnh Quán Thế Âm. Ngài Quán Thế Âm cũng độ luôn cho con của Thị Mầu đắc quả hầu gần bên mình.

mẹ quán thế âm ngồi đài sen

Sự tích Quán Thế Âm và Quán Âm Thị Kính (Nguồn: Tham khảo Internet)

Sự tích Quán Thế Âm và Quán Âm Diệu Thiện

Ở kiếp cuối cùng, Quán Thế Âm Bồ Tát đầu thai làm công chúa út của vua Linh Ưu (niên hiệu Diệu Trang), nước Hưng Lâm, thuộc Ấn Độ. 

Chính thê của nhà vua là hoàng hậu Bửu Đức dù đã tại vị 40 năm vẫn chưa sinh được hoàng tử nối ngôi. Bà bèn xin vua Linh Ưu cho mình được lên núi Huê Sơn cầu tự vì nghe nói rằng nơi này có một vị thần rất linh thiêng, cầu gì được nấy. 

Sau khi đi cầu tự trở về, không lâu sau, hoàng hậu mang thai và lần lượt sinh ra ba người con gái là Diệu Thanh, Diệu Âm và Diệu Thiện. Vị công chúa út Diệu Thiện sau này tu thành chánh quả, đắc đạo thành Quán Thế Âm Bồ Tát. 

Vì không có con trai, vua Linh Ưu quyết định sẽ truyền ngôi cho 1 trong 3 phò mã sau này. Ông đính hôn 2 người con gái đầu cho 2 vị quan to có tiếng trong triều. Duy chỉ có công chúa Diệu Thiện là một mực không muốn lấy chồng, chỉ mong được xuất gia. 

Sau khi bị vua cha ép buộc, nàng bèn xin gả cho một thầy thuốc với mong muốn “cứu chữa quan lại khỏi bất tài ngu xuẩn”; giúp đỡ chúng sanh thoát khỏi nạn “nắng lửa mưa dầu và gió tuyết”, tránh xa cái “xấu xa, tật nguyền và bệnh hoạn” do phân chia giai cấp mà ra. Nghe vậy, nhà vua càng thêm tức giận, lột sạch y phục và nhốt nàng trong phòng, không cho ăn uống hòng răn đe. 

Trước khổ hình và những lời khuyên bảo từ các mệnh phụ, Diệu Thiện vẫn không thay đổi ý định của mình. Nàng thậm chí còn xin vua cha cho mình được tới tu tập ở chùa Bạch Tước, thuộc quận Long Thọ, tỉnh Nhữ Châu. Nhà vua đồng ý vì nghĩ rằng nàng không thể thoát ly khỏi cuộc sống xa hoa quá lâu. 

Trong thời gian Diệu Thiện tu hành tại chùa, nhà vua hết lần này tới lần khác cho người đày ải, bắt nàng làm những công việc nặng nhọc nhất để khiến nàng nhụt chí. Thế nhưng vì quyết tâm to lớn, lại thêm phần được thần thánh giúp sức thoát khỏi hiểm nạn, Diệu Thiện không hề hấn gì, càng không lay chuyển chánh tâm dành cho Phật pháp. 

Vua Linh Ưu đã thử mọi cách từ nhu tới cương nhưng vẫn không khiến nàng đổi ý được, bèn nổi trận lôi đình, quyết định xử tử nàng. Đến ngày hành hình, khi đao phủ giơ đao lên thì đao gãy làm đôi, đổi sang dùng giáo định đâm nàng thì giáo cũng gãy nốt, sau cùng chỉ còn cách treo cổ nàng.

Khi Diệu Thiện bị treo lên, một trận cuồng phong kéo tới mang theo mây đen. Thân hình nàng Diệu Thiện lại tỏa ra hào quang sáng lấp lánh. Lúc này, trong rừng bỗng xuất hiện một con hổ (do Thần Bổn Cảnh phái tới), nó đón lấy thân nàng rồi chạy mất hút lên núi để giữ cho nàng được toàn thây. 

Mọi người chứng kiến cảnh này thì vô cùng hoảng loạn, bèn về tâu lại với nhà vua. Biết chuyện, vua Linh Ưu không hề tiếc thương con gái mà thậm chí còn cho đó là nghiệp quả của bất hiếu, khi quân phạm thượng.

Về phần nàng Diệu Thiện đáng thương, sau khi chết, oan hồn nàng liền được Diêm Vương mời xuống Âm Ti. Tại đây, nàng được chứng kiến tất thảy những nỗi đau khổ, cực hình, quả báo sau khi chết của vô vàn âm hồn. Nàng đi đến ải nào cũng ra sức thuyết pháp, dùng sức thần thông cứu độ những linh hồn đó đều đặng siêu thoát hết. 

Nhận ra quả tu hành của nàng, Thập Điện Minh Vương biết chốn này không có quyền giam cầm vong hồn Diệu Thiện, bèn đưa nàng trở về dương gian. Sau khi được tái sinh, Diệu Thiện tiếp tục theo con đường tu tập chánh đạo chín năm tại núi Phổ Đà. Đạo pháp của nàng ngày càng cao siêu, đến nỗi thần trấn núi phải khẳng định rằng trước nay chưa từng có vị Bồ Tát nào được như thế. 

Nàng đắc đạo, đứng đầu trong các vị Bồ Tát, tiếp nhận cai quản núi Phổ Đà và thoát khỏi luân hồi, được gọi là Quán Âm Như Lai hay Phật Tổ Phổ Đà Sơn. Sau còn hữu duyên thu nhận đồng tử Thiện Tài và Long Nữ (cháu gái Nam Hải Long Vương) về dưới trướng để phụng sự mình. 

Vua Linh Ưu sau khi nhẫn tâm ép chết con gái ruột là Diệu Thiện thì sau này bỗng mắc một chứng bệnh lạ. Khắp người ông đầy ghẻ lở, hôi thối và gây đau đớn khôn cùng nhưng không có thuốc nào chữa khỏi. 

Quán Thế Âm hóa thành một nhà sư, đến xem bệnh cho vua. Ngài nói rằng phải kiếm được một đôi mắt và một đôi cánh tay của thân nhân ở núi Phổ Đà thì nhà vua mới khỏi bệnh. 

Lúc này, hai vị phò mã của vua Linh Ưu lợi dụng sơ hở, bắt tay đầu độc ông hòng soán ngôi. Bồ Tát lường thấu mọi sự, ra tay trừng trị hai tên hung độc. Không chỉ vậy, khi sứ giả của vua Linh Ưu lên núi Phổ Đà tìm thuốc theo lệnh, Ngài Quán Thế Âm còn trao đôi mắt và đôi tay của mình để chữa bệnh cho nhà vua. 

Sau này khi đã khỏi bệnh, vua Linh Ưu cùng hoàng hậu Bửu Đức lặn lội gian nan lên núi Phổ Đà tìm con và hiểu được mọi sự. Vì ăn năn hối lỗi chuyện xưa, họ lánh xa chốn cung điện nguy nga, tìm về nơi trần tục để mong được thanh thản phần nào.

quán thế âm bồ tát ngồi thanh tịnh

Sự tích Quán Thế Âm và Quán Âm Diệu Thiện (Nguồn: Tham khảo Internet)

Sự tích Mẹ Quán Âm không đơn thuần là câu chuyện được lưu truyền qua kinh sách, mà còn là bài học về đạo đức – tinh thần vô cùng to lớn của những người theo đạo Phật.  Chính cái hay, cái đẹp từ đó góp phần tạo nên nguồn động lực và niềm tin sâu sắc cho mọi người tu tâm dưỡng tánh, sống nhân đức, vị nhân sinh, từ đó càng đón nhận được nhiều điều tốt đẹp hơn đến với bản thân và gia đình.

Thái Mỹ Hạnh
Thái Mỹ Hạnh

Thái Mỹ Hạnh là người sáng lập Bửu Liên, với hơn 25 năm kinh nghiệm thực tế trong lĩnh vực tôn tượng, vật phẩm thờ và thiết trí không gian thờ. Chị tham gia định hướng thẩm mỹ, lựa chọn sản phẩm và kiểm duyệt các nội dung chuyên môn trên website Bửu Liên.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *